JAZZ
Thỉnh thoảng có người bàn với nhau, hay nói với chúng ta: Ban nhạc này chơi Jazz rất hay, cô ca sĩ kia hát Quốc Ca Mỹ và Canada theo lối Jazz rất tuyệt, hoặc 2 nhạc sĩ nọ tùy hứng, đối đáp nhau bằng dương cầm và contrabass nghe rất khoái tai v.v… Những lời khen hay bàn luận như thế, kích thích óc tò mò, khiến không ít người trong chúng ta muốn biết thêm về loại nhạc này. Mời các bạn cùng ôn lại một ít hình ảnh và tìm hiểu thêm vài nét đặc thù của Jazz, dòng nhạc được nhiều người ưa chuộng bấy lâu nay.
Vào cuối thế kỷ 20, ở miền Nam nước Mỹ, đôi khi chúng ta thấy đây đó “…Một đoàn người đưa tang, theo sau cỗ xe chở quan tài, ngoài thân bằng, quyến thuộc của người quá cố, còn có một ban nhạc vừa đi vừa chơi các bài như ‘When the Saints Go Marching In’, ‘High Society’, hay ‘Didn’t He Ramble?’ v.v…; Nối tiếp sau là một chiếc xe mui trần với các nhạc sĩ kèn đồng ngồi bên trên. Đoàn người gồm nhiều thành phần trong xã hội, vừa đi, vừa hát theo tiếng nhạc, hay than khóc hoặc cầu nguyện; Mọi người chung lòng hiệp ý tiễn đưa thân nhân vừa nằm xuống đến nơi an nghỉ cuối đời. Hình ảnh trên, gợi cho chúng ta thấy phần nào, nét sinh hoạt của một ban nhạc Jazz thời phôi thai. (Phần nhiều các bài nhạc này được sắp xếp và trình diễn bằng sự cảm nhận tự nhiên của các nhạc sĩ (‘a large part of the music was made up and played by ear’). Âm thanh trầm bổng của tiếng nhạc bao quanh đoàn người, làm vơi đi cảnh thê lương buồn thảm, mang lại sinh khí và dìu mọi người đến gần nhau hơn.” (Trích phần và lược dịch lời của Louis Amstrong trong sách ‘The Billboard Book of Songwriting’, tác giả Peter Pickow and Amy Appleby’, trang 126, dòng 8-17).
Jazz được phỏng đoán, đã xuất hiện vào những năm 1900 tại New Orleans, Mỹ. Vào thời đó, Jazz là loại nhạc hoà tấu, mà vĩ cầm (violin) giữ vai trò then chốt trong việc làm nên vóc dáng và tạo nét cá biệt cho dòng nhạc này.
Tuy cùng phát xuất từ người Mỹ gốc Phi Châu (African-American), nhưng Jazz có nhiều phong cách khác với Blues và Ragtime. Hơn thế, Jazz còn mang nhiều ảnh hưởng của các loại nhạc Dân Gian của Mỹ (American Dance and Folk music) và Âu Châu như Tây Ban Nha, Anh Cát Lợi v. v… . Do đó, nhạc Jazz được nhiều người chấp nhận một cách dễ dàng, rộng rãi.
Vì được sinh ra từ New Orleans, nên Jazz khi đó, được mang tên là New Orleans Jazz (1890-1910). Với đà phát triển, nhạc Jazz lan rộng, rồi tiến dần lên phương bắc (1917) và có thêm lối chơi mới (new style) là Chicago Jazz. Đây là loại nhạc xuất hiện tại tiểu bang Chicago vào thập niên 30-40. Chicago Jazz còn được biết nhiều với tên Swing, dòng nhạc này rất được ưa chuộng và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Jazz. Vào những năm đầu của thập niên 40, Jazz được chia thành 3 nhánh, gồm có sự tái xuất hiện của New Orleans Jazz, được pha trộn với nhịp điệu của Swing, rồi Big-Band Swing và sau đó là Bebop. Cuối thập niên 40 có Cool Jazz và Afro-Cuban Jazz; Thập niên 50 có West Coast Jazz, tiếp theo là Free Jazz, xuất hiện vào những năm sau cùng của thập niên trên. Người Ba Tây cũng biến chế Jazz để cho ra đời loại nhạc Bossa-Nova. Sau này còn có thêm sự hòa hợp của Jazz vào Rock được gọi là Fusion. Trong tương lai, thế nào cũng có nhiều phong cách Jazz khác nữa, sẽ được thành hình.
The West Point Band’s Jazz Knights perform in West Point’s Eisenhower Hall (2011). Source: Encyclopedia Wikipedia.
Như chúng ta đã biết, khởi đầu, Jazz là loại nhạc hòa tấu (Instrumental Jazz) để diễn hành (march) hay khiêu vũ (dance). Một ban nhạc Jazz thường có các nhạc cụ như cornet, trombone, clarinet, piano, guitar, banjo, tuba, bass-saxophone và trống; Hay một Big-Band Swing thường có 5 saxophones, 4 trumpets, và 4 trombones; Phần đệm có piano, guitar, contrabass và dàn trống.
Sau đó, Jazz có thêm lời ca (phần tấu nhạc luôn vẫn là chính yếu) và đạt được mức hoàn hảo vào những thập niên 30-40. Các nghệ sĩ tài ba lúc bấy giờ như Thelonious Monk, Charles Mingus, Sarah Vaughan, Mel Torne hay nhóm hòa ca (Vocal Groups) Manhattan Transfer, Singers Unlimited rất được quý trọng, yêu thích và vẫn còn được nhắc nhở đến tận ngày nay.
Phần cốt lõi của nhạc Jazz là:
- Thường có nhịp điệu của Swing (Swing beat);
- Có nhiều hơn 1 tiết điệu, cùng hòa quyện với nhau (polyrhythms/flexible rhythms);
- Phải có nhịp ngoại (syncopated rhythms);
- Có đối / đáp (call and response). Nếu hát thì nhịp ngoại thường có trong phần đáp;
- Để đúng hương vị, Jazz cần có các nốt nhạc của Blues (Blue Notes);
- Đặc biệt nhất, nhạc Jazz phải có phần tùy hứng, với nhiều giai điệu luân phiên, hay đối đáp nhau (polyphonis-improvisation) và
- Khi hát Jazz, ca sĩ thường gia giảm 1 phần 4 cao độ giữa 2 nốt nhạc của âm giai (bends notes) và phát âm thêm những tiếng reo hò, gào la, hay ư, a, vô nghĩa (cries, hums, shouts, ect…) như “Ja-Da”, “JaDa, JaDa, DaJa DaJing, Jing, Jing” v.v… như chúng ta vẫn nghe, thấy các tín đồ Mỹ gốc Phi Châu thường làm, trong khi hát, hay rao giảng nơi giáo đường của họ.
Để tiện việc so sánh, dưới đây là 3 âm giai C, với 2 có các nốt nhạc của Blues là Eb, Gb và Bb:

Thông thường, bố cục của một bài nhạc Jazz gồm có 2 phần, tức là Binary Form (AABA), giai điệu khá đơn thuần. Các nhạc sĩ sáng tác Jazz (Songwriters) hay chuyển đổi âm giai (variety of scale), để giúp giai điệu của Jazz thêm sinh động. Đôi khi, họ không dùng các notes trong âm giai chủ (root), mà lại dùng một âm nào đó, tạo một thang âm mới (modal scale) như Diminished, Whole-tone hay Altered Scale để khởi đầu bài nhạc, sau nhiều trường canh, giai điệu mới đi vào âm giai chủ. Thí dụ, với âm giai C Trưởng (C Major), chúng ta bắt đầu đàn từ nốt D và tiếp tục cho đến D’ (cao hơn 1 quảng 8), chúng ta vừa đàn Dorian Mode bắt đầu bằng D. Lối dùng Modal Melody này làm ngạc nhiên người nghe một cách khá thú vị, nên rất được ưa chuộng và thường được dùng bởi các nhạc sĩ thời thập niên 50 và 60 như Miles Davis, Gerry Mulligan v.v… .
Về diễn tiến hợp âm của Jazz (Jazz chord progression), chúng ta thường thấy tuần tự các hợp âm bậc Hai, Năm và Một của âm chủ (II, V, I) được dùng để kết thúc đoạn nhạc hay chuẩn bị cho việc chuyển cung (transitory modulation). Thí dụ, trong Âm Giai C Major, chúng ta sẽ tuần tự dùng các hợp âm: D Minor, G và C. Ngoài ra cũng có nhiều nhạc sĩ còn đưa hợp âm bậc V của II (the V of II chord) đặt phía trước của diễn tiến hợp âm trên để có VI – II – V – I như Jerome Kern đã dùng trong bài “All the Things You Are” chẵng hạn.
Để theo đúng cung cách Jazz và tạo nhiều hương vị cho giai điệu, các nhạc sĩ luôn dùng những hợp âm nhiều hơn 3 nốt với các số cao hơn 5 (higher number chords) như: 6, 7, 9, 11, 13 và nhiều hợp âm có nốt tăng hay giảm (altered chords) như: flat 5 (-5), sharp 5 (#5), flat 9 (-9), sharp 9 (#9) và sharp 11 (#11). Việc này, làm phong phú thêm màu sắc cho dòng nhạc và giúp tạo nét cá biệt cho Jazz.
Dưới đây là 3 thí dụ về diễn tiến hợp âm thường có của Jazz, mà chúng ta vừa nói bên trên:

Hầu hết các bài nhạc (được ký âm như nhạc Tây Phương), đều có thể chơi theo phong cách Jazz, miễn là phải tuân thủ các điểm căn bản, cần có của nhạc Jazz.
Cũng như Blues, khi nghe Jazz, chúng ta cảm thấy bị lơ lửng giữa 2 âm thể Trưởng và Thứ; Ngoài ra, với nhịp điệu đong đưa của Swing (có trong hầu hết nhạc Jazz) khiến chúng ta có nhiều cảm giác bồng bềnh như đang nổi trôi theo dòng nước (The swing beat forces a song’s rhythm into a triplet feel.). Thêm vào, chúng ta còn được nghe nhiều hơn 1 tiết điệu cùng hòa quyện với nhau khi ẩn, khi hiện. Hơn thế, với các lần chuyển cung (variety of scale) hay dùng thang âm mới để bắt đầu (modal scale), làm cho giai điệu của Jazz có lắm thay đổi bất ngờ, đưa chúng ta đến nhiều ngạc nhiên; Hoặc những lúc, các nghệ sĩ đàn hay hát, đối đáp, luân phiên nhau trong tùy hứng (improvisations), tạo chấm phá với các hợp âm lạ tai (unexpected chords) làm cho dòng nhạc vô cùng sinh động và có thêm nhiều màu sắc. Nhạc Jazz luôn cho người nghe nhiều rung cảm dạt dào, lắm thú vị khó quên.
Với những ưu điểm nêu trên, Jazz tự nó, đã có nhiều nét độc đáo, lại được thêm vào tài nghệ và kỹ thuật diễn tấu tinh tế của những ca, nhạc sĩ hiếm quý như Eubie Blake (1887-1983), Louis Amstrong (1901-1971), Ray Charles (1930-2004), Tom Waits (1949) v.v… khiến cho Jazz được lan truyền sang Âu và các Châu khác rất nhanh.
Ban Nhạc Huỳnh Hiếu (Sài Gòn 1961). Nguồn: Huỳnh Hữu Thạnh.
Montréal Jazz Band (2013). Source: Encyclopedia Wikipedia.Tại Sài Gòn, vào những năm 1960, nhiều ban nhạc của vũ trường, thỉnh thoảng cũng chơi Jazz; Riêng nhạc sĩ Huỳnh Hiếu (guitar) thì có khác, ngoài việc phụ trách một ban nhạc trình diễn thường xuyên tại hộp đêm, ông còn qui tụ một số đồng nghiệp như Lê Văn Thiện (piano), Huỳnh Hạnh (contrabass), Huỳnh Anh (trống) v.v…, lập nên một ban nhạc chuyên chơi Jazz. Họ trình diễn vào các buổi trưa cuối tuần tại phòng trà Paramount. Ban nhạc Huỳnh Hiếu gồm toàn những nhạc sĩ bậc nhất đương thời, nên luôn có khách mộ điệu, cũng như nghệ sĩ nhiều trang lứa và trình độ, cùng đến thưởng thức, trao đổi hay học hỏi thêm.
Chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ, vào ngày 16 tháng 8, năm 1969, tại đại hội âm nhạc Woodstock, New York, Mỹ (An Aquarian Exposition: 3 Days of Peace & Music); Ban nhạc Santana với nhạc sĩ đàn guitar người Mỹ, gốc Mễ Tây Cơ tên Carlos Santana và tay trống Michael Shrieve (nhạc sĩ vừa tròn 20 tuổi, trẻ nhất tham dự đại hội này) cùng với các thành viên khác trong ban, đã tùy hứng luân phiên, đối đáp nhau trong bài “Soul Sacrifice”, khiến trên 400 ngàn người tham dự hôm đó vô cùng ngạc nhiên, thích thú. Ban Santana đã từng đoạt 9 Grammy Awards và 3 Latin Grammy Awards. Đây là ban nhạc chuyên chơi loại Rock & Latin American Jazz, họ đã có trên 100 triệu đĩa nhạc được bán ra.
Nhạc Jazz vẫn còn được yêu chuộng khắp nơi, mải cho đến ngày nay.

Ban nhạc Đan Thọ (Saì Gòn 1962). Nguồn: Huỳnh Hữu Thạnh.

Spyro Gyra compines Jazz / R.B. / Pop. Source: Encyclopedia Wikipedia.

Ban nhạc Coóng Phùng (Sài Gòn 1960) – Nguồn: Huỳnh Hữu Thạnh.
Những gì được trình bày trên đây chỉ là sơ lược về nhạc Jazz, được gom góp, thu thập từ các giáo sư âm nhạc, bằng hữu, cùng nhiều nguồn khác. Với những hiểu biết và tầm nhìn hạn hẹp của người viết, chắc chắn có nhiều sơ xuất; Xin được mọi người rộng lượng bỏ qua.
Người viết rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp và lời phê bình của bạn đọc.
Châu-Phố,
chauphomusic.com
Montréal, cuối Thu 2018.
Tài Liệu:
- The Billboard Book of Songwriting – Peter Pickow and Amy Appleby – Billboard Publication, Inc. New York.
- The Harvard Concise Dictionary of Music and Musicians – Don Michel Randel – The Belknap Press Harvard University Press.
- Encyclopedia Wikipedia.